Một vị A La Hán đã diệt hết 10 kiết sử là thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tham, sân, mạn, thích sắc, thích vô sắc, trạo cử, vô minh.
Trong đó thích sắc (sắc ái) là thích sắc đẹp, thích người đẹp, nhà đẹp, xe đẹp, quần áo đẹp, vật dụng đẹp,… Cho đến thích tịnh quang, quang minh ánh sáng. Thấy sắc và chấp vào sắc, kể cả chấp vào sắc tướng của Phật Bồ Tát.
Thích vô sắc (phi sắc ái) là cho mọi thứ sắc tướng đều là không, cho mọi thứ đều là giả, cho đến tất cả là không, hư vô, chấp trong cái không đó mà không thoát ra được. Cho đến ưa thích nơi vắng vẻ rời xa các sắc tướng, thích ở nơi vắng vẻ là sự trốn chạy thực tại cuộc sống, là phi sắc ái.
Thân kiến là chấp thân người vật lý tứ đại là thật có, là bản ngã. Giới cấm thủ là chấp Giới quá chặt làm tâm bị thúc ép mà không chánh niệm tỉnh giác được, cho đến không hiểu bản chất của Giới.
Tham là bám chấp vào ngũ dục tiền bạc, danh vọng, ái dục, ăn, ngủ, bám chấp thần thông, tham hiểu biết thế tục. Cho đến bám chấp vào sự an lạc, tham đắm vào hỷ lạc của thiền như mật ngọt.
Sân là nóng nảy, giận hờn, hận thù, ghen ghét, đố kỵ, cho đến sát sinh, thiếu từ bi, vô cảm, vô tâm, lạnh lùng.
Mạn là sự kiêu ngạo cho rằng mình đã chứng bậc thánh, cho là mình hơn người trên đường tu, cũng không muốn ai hơn mình, mạn dẫn đến đố kỵ, hẹp hòi.
Hoài nghi là nghi ngờ về con đường giải thoát Giới Định Tuệ, trạo cử là tâm còn xao động khởi lên niệm tưởng dù là vi tế nhất, hoặc rơi vào hôn trầm, thụy miên.
Vô minh là tâm chưa chứng được tánh biết sáng suốt không ngăn ngại.
Bậc thánh A La Hán đã diệt hết 10 kiết sử, đạo đức trở nên tuyệt đối nhất, không còn gì để chê, hay phải sửa chữa về tâm. Đã làm những gì cần làm để chuồn khỏi luân hồi, tự tại trong luân hồi, thoát khỏi tam giới.

























